TRÁI ĐẤT QUAY

CHO CÁC LIVEPUDLIAN

ĐỘNG VẬT DỄ THƯƠNG

CÀ PHÊ NGUYÊN CHẤT

SINH TỐ MIỆT VƯỜN

TA CÙNG CẠN LY

Thông tin

Tài nguyên dạy học

Điều tra ý kiến

Bạn thấy MÁI NHÀ CHUNG MÀU XANH của Đỗ Văn Mười như thế nào?
Rất đẹp
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hân hạnh đón tiếp:

    3 khách và 0 thành viên

    LIÊN KẾT HỮU ÍCH

    Bing dịch Yahoomail Google search Google dịch

    Hỗ trợ trực tuyến

    Chào mừng quý vị đến với blog Mái nhà chung màu xanh

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    HÁT ĐỂ CHUNG TAY CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

    Gốc > Thông tin Y học > Cây thuốc quanh ta >

    Sim - vị thuốc quý

     
    Theo nongnghiep.vn
     
     

    Cây sim có tên khoa học: Rhodomyrtus tomentosa (Ait.) Hassk., thuộc họ sim (Myrtaceae). Ngoài ra, còn gọi là hồng sim, đào kim nang... Sim mọc hoang tại các vùng đồi trọc khắp nước ta. Cây thích hợp với đất khô cằn, gò đồi... Ở miền Trung, sim thường ra hoa và trái từ tháng 3 đến tháng 8 hằng năm.

    Dược tính và cách sử dụng: 

    Rễ, lá và trái sim được dùng làm dược liệu trong y học cổ truyền Việt Nam và Trung Quốc.

    Tại Trung Quốc: Sim được ghi chép trong Bản thảo cương mục thành 2 vị thuốc: trái là đào kim nang hay sơn niệm tử, còn rễ là sơn niệm căn.

    Sim được xem là có vị ngọt/chát, tính bình.

    *Rễ sim: Tác dụng “khu phong, hoạt lạc”, thu liễm và chỉ tả; được dùng để trị sưng bao tử cấp tính, ăn không tiêu, sưng gan, đau nhức do phong thấp...

    *Lá: Tác dụng thu liễm, chỉ tả; cũng dùng để trị viêm dạ dày, ăn không tiêu, dùng đắp ngoài để trị xuất huyết.

    Trị tiêu chảy, lỵ trực trùng và nhiễm khuẩn khác ở đường ruột; lá sim: 1 nắm (30 g), rửa sạch, giã nát, chế 1 lít nước sôi vào hãm hay nấu uống trong ngày. Dùng trong 3 ngày. Có thể thêm 1 muỗng canh mật ong cho mỗi ly cho dễ uống.

    * Trái: Tác dụng bổ huyết, dùng trị thiếu máu khi có thai, suy nhược sau cơn bệnh, an thai. Trái chín tương ăn rất ngon và bổ. Người ta đã chứng minh chất màu tím của trái là antocyanin có tác dụng chống oxy hóa, chống lão hóa.

    Vài phương thức sử dụng:

    Trị đau hay loét dạ dày, viêm ruột và kiết lỵ: dùng 60g trái khô, thêm nước, hấp đến chín nhừ và chắt lấy nước. Uống mỗi ngày 1 - 2 ly, buổi sáng khi thức dậy và khi đi ngủ... Uống trong 20 ngày.

    Trị tiêu chảy nơi trẻ em: sao đến cháy đen 30 g trái khô. Đun nhỏ lửa trong nước đến chín. Uống ngày 3 lần.

    Xuất tinh sớm, ù tai, choáng váng và mất ngủ: dùng 60 g trái khô, 1 quả trứng, 30 g đường cát vàng, rượu trắng (vừa đủ). Hầm nhỏ lửa đến chín. Uống hết một phần trước khi đi ngủ.

    Để điều trị thiếu máu, mặt tái, môi lạnh, tay chân lạnh, hay choáng váng, chóng mặt: dùng 15 g trái khô, 15 g long nhãn nhục, 30 g đường phèn. Nấu lửa nhỏ đến chín. Ăn 1 hay 2 lần mỗi ngày.

    Giúp mau hồi phục sau cơn bệnh: dùng 30 g trái khô, 30 g thịt heo nạc và 2 - 3 trái táo tàu. Thêm nước, nấu đến chín. Ăn mỗi ngày.

    Cách chế tạo rượu sim:

    Lấy 500 g trái sim khô, nghiền nát, ngâm trong 1 lít rượu trắng (40 độ) trong 10 ngày, mỗi ngày lắc, trộn một lần... có thể dùng làm rượu khai vị.


    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗ Văn Mười @ 13:46 05/11/2010
    Số lượt xem: 447
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến